MỘ CỤ SAU THUỶ TỔ

MỘ CỤ SAU THUỶ TỔ
Mộ cụ sau Thuỷ Tổ ở Mả Ngấn - Song táng.

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

THÀNH HOÀNG


THÀNH HOÀNG
         Thành Hoàng là danh từ chung để chỉ vị thần được thờ cúng trong làng xóm Việt Nam. Thành Hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng và thường được thờ ở đình làng. Thành Hoàng dù có hay không có họ tên; lai lịch dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào thì cũng là chủ tể (Người đứng đầu) trên cõi thiêng của làng đều mang tính chất chung là: Hộ quốc t dân (Giúp nước che dân). Trong tâm thức của người dân Việt Nam, Thành Hoàng là vị thần của cộng đồng dân cư, Ngài ngự trị tại đình, chứng kiến đời sống sinh hoạt của người dân trong làng, bảo vệ và ban phước cho mọi người dân trong làng.
                                   
         Thành Hoàng xuất phát từ chữ Hán: Thành là cái thành, Hoàng là cái hào bao quanh cái thành. Và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành. Ông thần ở đình làng gọi là Thành Hoàng Làng, cai quản khu vực trong làng.
         Tục thờ Thành Hoàng vốn có nguồn gốc từ thời Trung Hoa cổ, được du nhập vào nước ta từ thời Đường, tiếp tục phát triển qua các triều đại phong kiến và thời kỳ độc lập. Sau khi du nhập vào làng xóm Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người dân Việt Nam, trở nên hết sức đa dạng, thể hiện lòng thành kính đối với vị thần có công với làng xóm; thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”.
         Thành Hoàng của người Việt là một vị thần thường được dân làng tin thờ từ trước, sau đó mới được Vua phong tước vị với chức danh là Thành Hoàng. Trong các triều đại phong kiến, Vua thường yêu cầu các làng khai báo các vị thần mà dân làng thờ, sau đó Vua xem xét và ban sắc thần. Sắc thần là giấy do Vua ban cho một hay một cấp đơn vị hành chính để phong thưởng tước vị cho các vị thần. Sắc được viết trên một tờ giấy lụa dày màu vàng, khổ 0,5m x 1,1m hoặc 0,5m x 1,2m, có in hình rồng mây màu bạc, xung quanh đóng khung. Mục đích của triều đình phong kiến cấp sắc cho các địa phương là xác nhận quyền lực của Triều đình Trung ương đối với các địa phương theo nguyên lý Vua là Thiên Tử (con trời) nên có quyền cấp sắc cho các Thần và Thần là vị thừa mệnh Thiên Tử để bảo vệ dân làng.
         Trong các văn bản do Vua ban thì Thành Hoàng Làng được viết là Đương Cảnh Thành Hoàng hay Bản Cảnh Thành Hoàng, còn trong dân gian thường gọi là Thành Hoàng Bản Cảnh. Thành Hoàng được chia làm 2 cấp: Đô Thành Hoàng dùng để chỉ các vị Thành Hoàng trấn giữ các thành trì ở cấp tỉnh, huyện. Và Thành Hoàng Làng là các vị thần được thờ ở cấp xóm làng không có thành trì.
         Thành Hoàng chính là vị chỉ huy tối linh của làng không chỉ về mặt tinh thần mà còn về mặt đời sống vật chất. Thành Hoàng là vị thần tối linh có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Sự thờ cúng Thành Hoàng cũng là sự thờ phụng luật lệ của làng, thờ phụng lề thói gia phong của làng.
         Thường mỗi làng chỉ thờ một Thành Hoàng, song cũng có khi một làng thờ hai, ba vị Thành Hoàng; hoặc hai ba làng thờ một vị Thành Hoàng. Thành Hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tuỳ sự tích mỗi vùng, có thể là một vị thần như Phù Đổng Thiên Vương, thần núi như Tản Viên Sơn Thần, thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng ... lại có khi là các yêu thần, tà thần, ...
         Có khi Thành Hoàng chỉ là một người dân mà theo quan niệm, là người được các vị thần ban cho sứ mệnh để thay các vị thần cai quản làng xóm, được gọi là Thành Hoàng sống.
         Tương truyền rằng, khoảng năm 1938 đến năm 1940 của thế kỷ XX, ở làng Dinh Thị, xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc có ông Nguyễn Đình Cận làm nghề nuôi dê lấy sữa. Hàng ngày ông dẫn đàn dê đến chăn ở khu đồi làng Khai Quang. Mỗi lần ông đi qua đình làng thì ngai thờ Thành Hoàng đổ nhào về phía trước. Nhiều lần như vậy, ông Thủ Từ lấy làm lạ nên chú ý đến chuyện không bình thường này. Ông thấy, cứ mỗi lần ông Cận đi qua đình là ngai thờ Thành hoàng đều bị đổ. Ông trình bày đầu đuôi mọi sự với các hương chức. Hương chức cùng các vị bô lão họp bàn, làm lễ khấn xin thần linh báo mộng để dân làng biết lý do việc ngai của Thành Hoàng đổ. Thần linh báo mộng rằng: Thành Hoàng cũ Thượng đế chuyển sang làm việc khác và chỉ định ông Nguyễn Đình Cận thay thế. Sau đó làng làm lễ đón ông Cận về đình làng để thờ.
         Thành Hoàng có sức toả sáng vô hình như một quyền uy siêu việt, khiến cho làng quê trở thành một hệ thống chặt chẽ. Chính sự thờ cúng này là sợi dây liên lạc vô hình, giúp dân làng đoàn kết, nếp sống cộng cảm hoà đồng, đất lề quê thói được bảo tồn. Vì lẽ đó, các hương chức cũng như các gia đình trong làng, mỗi khi muốn mở hội hoặc tổ chức việc gì đều phải có lễ cúng Thành Hoàng để xin phép trước. Sự ngưỡng mộ Thành Hoàng của người dân không kém gì sự ngưỡng mộ đối với Tổ Tiên.
         Hàng năm, ngày giỗ Thành Hoàng là ngày hội đông vui nhất của làng. Trong những ngày hội, ngoài việc làm cỗ, ăn uống còn rất nhiều nghi lễ như diễn lại sự tích về Thành Hoàng, tế lễ, rước kiệu hay các trò vui: Đấu võ, đấu vật, chọi gà, thổi cơm thi, bơi chải, đánh đu, đánh cờ người, hát chèo, diễn tuồng, ... Không khí vui vẻ cả ngày lẫn đêm (có nơi hai, ba ngày), từ các lão ông, lão bà đến mỗi cháu bé; và chờ đợi nhất, vui nhất là những trai gái đương lứa, đây là dịp để gặp gỡ, kết bạn, tỏ tình.
         Các thế hệ dân làng cứ tiếp tục nối tiếp nhau đời này qua đời khác; nhưng Thành Hoàng thì còn mãi mãi, trở thành một chứng tích không thể phủ nhận được của  làng xóm  qua những cơn chìm nổi.
         Thành Hoàng quyết định mọi phúc, hoạ cho mỗi làng. Nếu trong gia đình tín ngưỡng thờ Tổ Tiên là chính thì đối với cộng đồng làng xóm tín ngưỡng chính là thờ Thành Hoàng. Các làng xóm lấy việc thờ cúng Thành Hoàng là quan trọng nhất. Thành Hoàng của làng cũng đuợc ví như Thổ Công ở trong nhà. Thành Hoàng là vị thần linh che chở cho cả làng chống mọi ác thần, giúp đỡ cho làng xóm thịnh vượng. Thành Hoàng là Thần bảo hộ, đại biểu cho những nguyện vọng chung của làng. Thành Hoàng hiện thân cho tục lệ, luân lý và đồng thời hành sự thưởng phạt. Thành Hoàng phạt người dân nào vi phạm lệ làng. Thành Hoàng thưởng người dân nào tôn trọng lệ làng. Sau cùng Thành Hoàng còn là hiện thân đại diện cho cái quyền tối cao của làng.
         Thành Hoàng của một làng có thể là 1 vị hoặc 2, 3 vị; cũng có thể là 5, 7 vị và gọi là Phúc thần. Phúc thần là vị thần giáng phúc cho dân.
         Phúc thần chia làm 3 bậc: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần.
- Thượng đẳng thần : Gồm các vị Thiên thần như Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Bà Chúa Liễu Hạnh, Tản Viên Sơn Thần (Sơn Tinh); hay các vị Nhân thần có công trạng hiển hách với quốc gia và có tên rõ ràng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, …
- Trung đẳng thần : Gồm những vị thần là các quan chức có danh hiệu, hoặc có công trạng với làng xóm được Vua ban sắc phong cho làm trung đẳng thần và ra lệnh cho làng xóm đem vế thờ.
- Hạ đẳng thần : Là vị thần do làng xóm đã thờ cúng từ trước mà Vua căn cứ vào đó để ban sắc phong.
         Ngoài 3 bậc phúc thần vừa kể, có làng còn thờ những vị thần rất nhảm (còn gọi là quỷ thần, yêu thần, tà thần) mà họ tin trước đây chết gặp giờ linh, ra oai, quấy nhiễu làng xóm làm cho dân làng phải sợ mà thờ cúng. Đó là: Thần rắn, thần lợn, thần chết nghẹn, thần trẻ con, …
         Không phải làng nào cũng có Thành Hoàng. Nhiều làng vì nhiều lý do không có Thành Hoàng, hoặc làng mới lập nên chưa có Thành Hoàng./

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét