1/ LỄ CÚNG GIỖ VÀO NGÀY NÀO?
Ngày giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kị nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kị (huý kị).
"Lễ giỗ" gọi là "Lễ chính kị". Chiều hôm trước lễ chính kị có "Lễ tiên thường" (Nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật dâng lên mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa những nhà phú hữu mời thông gia, bà con làng xóm đến ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kị. Dần dần vì khách đông mà phải chia làm hai lượt; lại có những nhà hàng xóm mời cả hai vợ chồng nên luân phiên nhau, người đi lễ tiên thường, người đi lễ chính kị. Ở nông thôn tuỳ theo thời vụ, muốn "Vừa được buổi cày, vừa hay bữa giỗ", buổi chiều đi làm đồng về, sang hàng xóm ăn giỗ tiện hơn; nên có nơi lễ tiên thường đông hơn lễ chính kị. Dần dần hoặc vì bận việc, hoặc vì kinh tế eo hẹp, hoặc vì thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một lần trong ngày lễ chính kị; nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả hai lễ. Một vài nhà làm, những người khác thấy thuận tiện bắt chước, dần dần trở thành tục lệ của địa phương.
Việc cúng ngày sống (Lễ tiên thường), nguyên xưa chỉ cúng vào buổi chiều, vì buổi sáng còn phải mua sắm, nấu nướng và ra khấn ở mộ yết cáo với Thổ Thần, Long Mạch xin phép cho Gia Tiên được về nhà dự lễ giỗ. Cúng ngày sống hay cúng ngày chết, hay nói cách khác là lễ tiên thường hay lễ chính kị, lễ nào là lễ quan trọng hơn, chẳng qua đó là cách biện hộ cho phong tục từng nơi.
Nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước thì trước ngày chết (Lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng ngày chết (Lễ chính kị) phải cúng buổi sáng kể cả chiều hôm đó mới chết.
2/ MẤY ĐỜI TỐNG GIỖ?
Theo Thọ Mai gia lễ: "Ngũ đại mai Thần chủ", hễ đến năm đời thì lại đem chôn thần chủ của Cao cao tổ khảo đi và nhấc dần Tằng tổ khảo lên trên thành Cao tằng tổ khảo, nhấc Tổ khảo lên trên thành Tằng tổ khảo, nhấc Hiển khảo lên thành Tổ khảo, bổ sung Hiển khảo mới sang cát vào Thần chủ.
Theo nghĩa cửu tộc (chín đời) thì bốn đời trên mình là: Cao tằng tổ khảo, Tằng tổ khảo, Tổ khảo, Hiển khảo; và bốn đời dưới mình là: Tử tôn, Tằng tôn, Hậu duệ tôn, Huyền tôn.
Như vậy có bốn đời làm giỗ là: Cao tằng tổ khảo-Cao tằng tổ tỷ, Tằng tổ khảo-Tằng tổ tỷ, Tổ khảo-Tổ tỷ, Hiển khảo-Hiển tỷ ( Kị ông-Kị bà, Cụ ông-Cụ bà, Ông-Bà, Bố-Mẹ).
Từ Cao cao tổ khảo trở lên gọi chung là Tiên Tổ thì không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào thành Phụ tế trong ngày giỗ của Thuỷ Tổ.
3/ TRƯỜNG HỢP CHẾT YỂU CÓ CÚNG GIỖ KHÔNG?
Có hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất: Người chết đã đến tuổi thành thân, thần nhân nhưng khi chết chưa có vợ, hoặc mới có con gái chưa có con trai, hoặc đã có con trai nhưng ít lâu sau con trai cũng chết trở thành phạp tự (không có con trai nối dòng). Những người như trên có cúng giỗ. Người lo việc cúng giỗ là người cháu (con trai của anh hoặc em ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hoặc toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó tiếp tự.
- Trường hợp thứ hai: Người chết chưa đến tuổi thành thân ( dưới mười sáu tuổi), sau khi hết lễ tang yết cáo với Tổ tiên xin Phụ thờ theo Tiên tổ ( gọi chung trong các bài văn cúng các bậc Tiên Gia là: Phụ vị thương vong tòng tự, không đặt linh vị từng vong hồn). Những người như trên không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, sắp thêm một đôi đũa đặt bên cạnh mâm, coi như người thân còn sống trong gia đình. Điều này không có trong Thọ Mai gia lễ, nhưng thuộc vào tâm linh, niềm tưởng nhớ tới thân nhân đã khuất.
4/ TẾT NGUYÊN ĐÁN
2/ MẤY ĐỜI TỐNG GIỖ?
Theo Thọ Mai gia lễ: "Ngũ đại mai Thần chủ", hễ đến năm đời thì lại đem chôn thần chủ của Cao cao tổ khảo đi và nhấc dần Tằng tổ khảo lên trên thành Cao tằng tổ khảo, nhấc Tổ khảo lên trên thành Tằng tổ khảo, nhấc Hiển khảo lên thành Tổ khảo, bổ sung Hiển khảo mới sang cát vào Thần chủ.
Theo nghĩa cửu tộc (chín đời) thì bốn đời trên mình là: Cao tằng tổ khảo, Tằng tổ khảo, Tổ khảo, Hiển khảo; và bốn đời dưới mình là: Tử tôn, Tằng tôn, Hậu duệ tôn, Huyền tôn.
Như vậy có bốn đời làm giỗ là: Cao tằng tổ khảo-Cao tằng tổ tỷ, Tằng tổ khảo-Tằng tổ tỷ, Tổ khảo-Tổ tỷ, Hiển khảo-Hiển tỷ ( Kị ông-Kị bà, Cụ ông-Cụ bà, Ông-Bà, Bố-Mẹ).
Từ Cao cao tổ khảo trở lên gọi chung là Tiên Tổ thì không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào thành Phụ tế trong ngày giỗ của Thuỷ Tổ.
3/ TRƯỜNG HỢP CHẾT YỂU CÓ CÚNG GIỖ KHÔNG?
Có hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất: Người chết đã đến tuổi thành thân, thần nhân nhưng khi chết chưa có vợ, hoặc mới có con gái chưa có con trai, hoặc đã có con trai nhưng ít lâu sau con trai cũng chết trở thành phạp tự (không có con trai nối dòng). Những người như trên có cúng giỗ. Người lo việc cúng giỗ là người cháu (con trai của anh hoặc em ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hoặc toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó tiếp tự.
- Trường hợp thứ hai: Người chết chưa đến tuổi thành thân ( dưới mười sáu tuổi), sau khi hết lễ tang yết cáo với Tổ tiên xin Phụ thờ theo Tiên tổ ( gọi chung trong các bài văn cúng các bậc Tiên Gia là: Phụ vị thương vong tòng tự, không đặt linh vị từng vong hồn). Những người như trên không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, sắp thêm một đôi đũa đặt bên cạnh mâm, coi như người thân còn sống trong gia đình. Điều này không có trong Thọ Mai gia lễ, nhưng thuộc vào tâm linh, niềm tưởng nhớ tới thân nhân đã khuất.
4/ TẾT NGUYÊN ĐÁN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét