MỘ CỤ SAU THUỶ TỔ

MỘ CỤ SAU THUỶ TỔ
Mộ cụ sau Thuỷ Tổ ở Mả Ngấn - Song táng.

Thứ Năm, 30 tháng 12, 2010

PHONG TỤC VIỆT NAM - CƯỚI HỎI

1/ NAM NỮ THỤ THỤ BẤT THÂN LÀ GÌ ?
         Đây là câu nói cửa miệng, quen dùng để chỉ mối quan hệ nam nữ theo quan niệm của NHÀ NHO.
Người đàn ông và người đàn bà ngày xưa trao cho nhau cái gì, nhận của nhau cái gì, đều không trực tiếp giao nhận tận tay, sợ rằng mang tiếng hấm háy, ra hiệu gì với nhau không lành mạnh ( Hai chữ "thụ thụ" trái ngược nghĩa: Một chữ thụ là trao cho, một chữ thụ là nhận lấy).
Hai người muốn mời nhau ăn trầu, thì người chủ têm trầu, xếp vào cơi trầu, đặt giữa bàn hoặc giữa chiếu giữa trõng, người chủ mời, khách tự nhặt lấy mà ăn. Lễ giáo phong kiến khắt khe như vậy, việc nam nữ tỏ tình trực tiếp khó mà thực hiện được, hoạ chăng chỉ còn đôi mắt thầm lén nhìn nhau...!
Người Châu Âu từ nhỏ đến già, theo phép lịch sự, bắt tay nhau, nhảy với nhau thân mật. Nhưng người Việt Nam nói riêng và người Á Đông nói chung, nam nữ vô ý chạm vào da thịt của người khác giới  thì coi như có cử chỉ không đứng đắn.
Người đàn ông có thái độ, cử chỉ suồng sã sẽ bị  người đàn bà xa lánh, nhưng không đáng lo bằng người con gái lẳng lơ sẽ bị toàn xã hội dèm pha dẫn đến khó mà lấy được tấm chồng cho đáng tấm chồng. Vì vậy các nhà quyền quý thường "cấm cung" con gái. Ngay từ tuổi thơ đã sớm hình thành sự ngăn cách giới tính. Thời phong kiến xưa, chỉ những người có tư tưởng tân tiến mới cho con gái đi học, mà có đi học thì con trai ngồi riêng, con gái ngồi riêng. Trai gái đi cùng nhau, vui chơi cùng nhau sẽ bị bạn bè cùng lứa chế nhạo. Có hội hè đình đám cũng phải phân biệt đàn ông đứng bên trái, đàn bà đứng bên phải.
Ở thành thị, vợ chồng nằm ngủ với nhau một giường là chuyện bình thường, nhưng ở nông thôn, đàn bà nằm ở trong buồng, đàn ông nằm ở bên ngoài đã trở thành nếp rồi. Ngày xưa, phổ biến mọi nơi đều thế, ngày nay lệ đó vẫn còn tồn tại ở nhiều nhà, nhiều vùng. Cho nên nếu ai ở thành thị về thăm quê thì hai vợ chồng cần tránh nằm chung giường, nếu không các cụ vẫn còn cảm thấy chướng mắt và có thể phật ý nữa.


2/ MỐI LÁI LÀ GÌ ?
         Trong xã hội phong kiến xưa "Nam nữ thụ thụ bất thân" nên hôn nhân cần phải có người môi giới. Nếu yêu nhau, cưới hỏi không có mối lái sẽ bị chê trách là "Phải lòng nhau" hoặc "Mắc phải bùa yêu". Nguyễn Du đã vạch đường cho Kim Trọng và Thuý Kiều cứ yêu nhau rồi sẽ "Liệu bài mối manh" nên các cụ nhà nho mới kịch liệt phản đối và khuyên con cháu là:
"Đàn ông thì chớ Phan Trần
Đàn bà thì chớ Thuý Vân Thuý Kiều"
Chu Mạnh Trinh vịnh Kiều còn nói: "Chỉ vì một tội mối manh chưa có, thề thốt đã nhiều; trăng gió mắc vào, phồn hoa dính mãi"... Nếu không có "Nhà băng đưa mối" thì nhà trai làm sao biết được người thục nữ trong cửa các phòng khuê.
Trong xã hội cũ, có những người chuyên làm nghề mối lái, nếu đẹp đôi vừa lứa thì bà mối sẽ trở thành ân nhân suốt đời. Lễ tơ hồng xong, tạ bà mối một nửa mâm xôi, nửa con gà và kèm theo chiếc áo lụa. Chẵn tháng con đầu lòng thế nào cũng cố mời bà mối đến dự để tỏ nghĩa tri ân. Nhưng cũng có nhiều tai hoạ do những bà mối có động cơ bất chính gây nên để đôi trẻ suốt đời mang mối hận vì phận hẩm duyên hiu.
... " Hoặc là bởi "Mẹ thầy lộn quýt", quên những thói mớ tôm mảng cá, qua lại ít nhiều ngọt miệng, ép uổng duyên cô nông nỗi thế, nặng tiền tài mà nhẹ gánh tình chung. Hay vì chưng "Mối lái đèo bòng", chẳng nhằm khi vào lộng ra khơi, nói phô mật ngọt rót vào tai, dỗ dành phận gái ngẩn ngơ tình, già nhân sự để non quyền tạo hoá"... ( Trích "Văn tế sống người con gái" - Một bài văn tế khuyết danh được truyền tụng ở Hà Tĩnh vào đầu thế kỷ XX).
Ở xã hội mới cũng cần có bà mối, bà mối thời nay là người cố vấn, người đỡ đầu cho đôi trẻ xây dựng hạnh phúc lâu dài. Trong tương lai có lẽ vai trò của bà mối là những phương tiện thông tin đại chúng (như quảng cáo trên Đài phát thanh và truyền hình, báo chí, chụp ảnh,...) và những công ty du lịch, câu lạc bộ những người độc thân,...

3/ LỄ VẤN DANH CÓ Ý NGHĨA GÌ?
         "Lễ vấn danh" là lễ nhà trai đến nhà gái để hỏi tên tuổi cô gái, ngày nay gọi là "Lễ chạm ngõ" ( có nơi kiêm cả lễ dạm và lễ hỏi cùng một lúc gọi là lễ dạm hỏi ). Truyện Kiều có câu: " Tiện đưa canh thiếp trước cầm làm ghi". "Canh thiếp" là giấy ghi họ tên, tuổi, quê quán, con ai?
         Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, ở nhiều vùng nông thôn, con gái từ khi sinh đến khi lấy chồng vẫn chưa đặt tên. Con gái không cần vào sổ họ, sổ làng, không đi học nên cũng không cần đặt tên vội. Ở trong nhà con gái mới sinh ra được gọi là cái Gái, cái Hĩm, con Mực, con Chắt,... Trong nhà gọi tên gì thì hàng xóm gọi theo tên đó. Đến làm lễ vấn danh, ông bác hoặc ông bố mới đặt cho cái tên để ghi vào giấy hôn thú. Khi về nhà chồng lại gọi theo tên chồng, khi có con lại gọi theo tên con đầu lòng, khi có cháu đích tôn lại gọi theo tên cháu đích tôn. Lễ vấn danh không phải để hỏi tên mà chủ yếu là hỏi tuổi, để hai họ quyết định đôi nam nữ hợp tuổi nhau thì lấy được nhau, tuổi xung khắc thì thôi.
         Trong hôn nhân xưa chỉ chú trọng có môn đăng hộ đối hay không, có hợp tuổi hay không, gia đình nào thận trọng mới tìm hiểu kỹ "Công Dung Ngôn Hạnh". Chẳng những các chàng trai trước khi cưới chưa biết mặt vợ, có những ông bố chồng là người chủ động đi hỏi dâu cũng không biết mặt con dâu, do đó trong gia đình sau này mới xảy ra nhiều chuyện oái oăm.
Ví như: "Cảm ơn ông bà thương đến, tôi xin đồng ý gả, nhưng xin thưa chuyện trước: Con tôi mồm mép chẳng bằng ai!".
Những tưởng như vậy là mình đã tìm được con dâu hiền hậu, không đanh đá chua ngoa; ai ngờ cưới về mới biết con dâu mình bị sứt môi!
Lại có trường hợp đánh tráo: Khi đi hỏi thì cho thằng em nhanh nhẹn và "sạch mặt" hơn đóng vai chàng rể, đến khi cưới thì lại cưới cho thằng anh đần độn, xấu xí!


4/ LẤY VỢ KÉN TÔNG, LẤY CHỒNG KÉN GIỐNG CÓ ĐÚNG KHÔNG?
         Đối với Các Cụ thì câu hỏi này thừa, vì " Nòi nào giống ấy ", " Cây nào quả ấy ", " Giỏ nhà ai quai nhà ấy ", " Con nhà Công chẳng giống lông cũng giống cánh ", " Tìm nơi có đức gửi thân ", ai chẳng muốn có trai hiền gái đảm, rể thảo dâu hiền. Thời nay, một số bạn trẻ coi thường cho là phong kiến lạc hậu. Có những đôi trai gái mới chỉ gặp nhau trên một đoạn đường đã vội đính ước, tính chuyện vuông tròn, thậm chí họ đã biết rõ cả " Ngọn nguồn lạch sông "...! Đành rằng cũng có trường hợp " Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên duyên ", song thành công là cá biệt, thất bại là phổ biến.
         " Tìm tông, tìm họ " không có nghĩa là tìm chốn sang giầu, khinh người nghèo khó, mà chủ yếu là tìm nơi có gia giáo, có đức độ.
         " Cha mẹ hiền lành để đức cho con ", " Đời cha ăn mặn, đời con khát nước ". Con người sinh ra và lớn lên do nhiều yếu tố xã hội chi phối; nhưng nam nữ thanh niên mới lớn lên, trường đời chưa từng trải, giáo dục gia đình là yếu tố quan trọng và chủ đạo. Hôn nhân là việc hệ trọng, tác động cả đời người, thế mà con người rất dễ mù quáng trong tình yêu. Qua tuần trăng mật không phải mọi việc trong quan hệ vợ chồng đều suôn sẻ. Khi có những việc khó khăn, trục trặc trong cuộc sống, ai cũng muốn tìm điều hay lẽ phải để giải quyết cho thoả đáng. Lúc đó cần dựa vào " Tông ", vào họ hàng, tìm những tình cảm chân thành và tri thức đúng đắn.
         " Môn đăng hộ đối ", tức là tìm nơi hai gia đình, hai bên thân thuộc, có những mặt cân đối phù hợp với nhau, chứ đâu phải bắc bậc leo thang, kẻ khinh người trọng.
         Ngoài ra còn một yếu tố nữa: Tính đến gien di truyền.


5/ NGƯỜI TRONG CÙNG MỘT HỌ CÓ LẤY NHAU ĐƯỢC KHÔNG?
         Ở các nước Âu Mỹ, anh chị em con chú bác ruột vẫn có quyền lấy nhau, qua tác phẩm " Ơgiêni Grăngđê " ta thấy mối tình giữa hai anh em con chú bác ruột Grăngđê và Ơgiêni sở dĩ trắc trở là do thói keo kiệt biển lận của lão Grăngđê, chứ tác giả không đả động đến vấn đề có chung huyết thống.
         Trung Quốc là một nước chịu ảnh hưởng của văn hoá phong kiến nặng hơn ta nhiều, nhưng anh chị em con cô, con cậu ruột, con dì ruột vẫn được lấy nhau. Xem Bảo Thoa, Bảo Ngọc... trong " Hồng lâu mộng " yêu nhau lấy nhau là chuyện bình thường.
         Ở nước ta dưới triều Trần, con cháu nhà vua chỉ được lấy người trong Hoàng tộc ( Lấy sang họ khác sợ bị nạn ngoại thích cướp ngôi ). Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lấy Thiên Thành công chúa là cô ruột của mình. Vua Trần Thánh Tông lấy Thiên Cảm Hoàng hậu là chị con bác ruột. Vua Trần Minh Tông lấy Lệ Thánh Hoàng hậu là con chú ruột,...
         Còn trong dân gian từ triều Lê về sau, nếu trong họ ( Nội tộc ) mà lấy nhau gọi là hôn thú, họ hàng không chấp nhận. Thời xưa, do trọng nam khinh nữ, hoặc thiếu hiểu biết về gien di truyền, nên anh chị em con cô con cậu ruột vẫn lấy nhau. Ca dao tục ngữ có câu " Cháu cậu mà lấy cháu cô, thóc lúa trong bồ giống má nhà ta ".
         Nhưng di truyền học đã khẳng định rằng: Người có chung huyết thống mà có con với nhau thì dòng giống bị thoái hoá, có trường hợp bị quái thai. Vì vậy anh em họ lấy nhau dù là họ nội hay họ ngoại đều không có lợi.


6/ CÔ DÂU TRƯỚC KHI VỀ NHÀ CHỒNG PHẢI CÓ NHỮNG THỦ TỤC, ĐỘNG TÁC GÌ?
         Khi nhà trai bắt đầu đón dâu thì cô dâu cùng với chú rể đến trước bàn thờ gia tiên khấu đầu làm lễ, tự khấn niệm xin tổ tiên chấp nhận kể từ nay nên vợ nên chồng, phù hộ cho trăm năm duyên ưa phận đẹp, cầm sắt giao hoà. Cũng có thể nhờ gia trưởng khấn hộ cho có bài bản. Lễ xong cô dâu chú rể đi mời nước mời trầu một lượt.
         Trước khi bước ra cửa để về nhà chồng là lễ tạ cha mẹ, ông bà; cha mẹ, ông bà cho quà làm kỷ niệm.


7/ LỄ XIN DÂU CÓ NHỮNG Ý NGHĨA GÌ? THỦ TỤC TIẾN HÀNH:
         Lễ xin dâu rất đơn giản, trước giờ đón dâu, nhà trai cử một hai người , thường là bà bác, bà cô, bà chị của chú rể đưa một cơi trầu, một chai rượu đến xin dâu và báo trước giờ đoàn đón dâu sẽ đến để nhà gái sẵn sàng đón tiếp.
         Phong tục này có nhiều ý nghĩa hay: Mặc dù hai gia đình đã quy ước với nhau từ trước về ngày giờ và thành phần đưa đón rồi, nhưng để đề phòng bất trắc xảy ra nên mới đặt ra lễ này. Đây là sự cẩn trọng trong hôn lễ.
         Bình thường lễ xin dâu và lễ đón dâu nhập làm một.


8/ TẠI SAO TRONG GÓI QUÀ CỦA MẸ CHO CON GÁI TRƯỚC GIỜ VU QUY CÓ MỘT CHIẾC TRÂM  HAY BẨY CHIẾC KIM?
         Xuất sứ của tục này là đề phòng tai biến "Phạm phòng". Khi bị "phạm phòng", người vợ không được đẩy chồng ra mà  phải ôm chặt lấy mông của chồng, tay kia rút trâm hoặc kim châm vào phía dưới hố xương chậu ( phía trên hậu môn ), châm liên tục đến khi chồng tỉnh lại. Bẩy cái kim là theo quan niệm cổ truyền: " Nam thất, nữ cửu " ( đàn ông bẩy vía, đàn bà chín vía ). Vì để phòng xa, dùng cho con rể nên bà mẹ vợ chỉ cho bẩy chiếc kim - chứ không phải dùng cho con gái vì con gái không bị "phạm phòng".


9/ TẠI SAO PHẢI CÓ PHÙ DÂU?
         Tục lệ xưa cần có phù dâu vì hôn nhân cưỡng ép, do cha mẹ định đoạt, thông thường là: "Gái thập tam, nam thập lục". Con gái mới mười ba tuổi về nhà chồng bỡ ngỡ chưa biết gì, do đó cô dâu phải có người dẫn dắt. Người dẫn dắt cô dâu gọi là phù dâu.
         Ngày xưa phù dâu phải là người cô, người dì, hay chị em thân thiết với cô dâu, có khả năng thuyết phục, bày vẽ cho cô dâu, được cô dâu kính nể, mến phục, được bố mẹ cô dâu uỷ thác. Người phù dâu phải là người may mắn, tốt phúc, duyên ưa, phận đẹp, con cái lành mạnh, ngoan ngoãn, gia đình êm ấm, đề huề, có thể truyền kinh nghiệm làm dâu, làm mẹ, làm vợ cho em, cho cháu mình. Phù dâu nhiều khi còn phải ở lại năm bẩy ngày sau để cho cô dâu đỡ buồn và để chỉ bảo kinh nghiệm.  Thông thường phù dâu cũng trở lại với dâu rể trong lễ lại mặt.
         Đám cưới ngày xưa phải có phù dâu, không định lệ, và cũng không có danh từ "phù rể". Đám cưới ngày nay nhiều nơi có cả phù dâu phù rể. Có đám cưới có đến năm sáu đôi phù dâu phù rể toàn là trai thanh gái lịch, chưa vợ chưa chồng. Có lẽ là để cô dâu thêm bạn, chú rể thêm bầu...



10/ LỄ LẠI MẶT CÓ Ý NGHĨA GÌ?
         Lễ thành hôn, tơ hồng, hợp cẩn xong xuôi, hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái, mang theo lễ vật để tạ gia tiên, ông bà, cha mẹ, đi chào họ hàng, thân nhân bên nhà gái, sau đó đón bố mẹ và vài thân nhân sang nhà trai. Kể từ buổi đó, mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà chú rể  và nhà thông gia, vì trong lễ cưới, mẹ cô dâu (có nơi cả bố) không đi đưa dâu. Lễ lại mặt thường tiến hành vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau ngày cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ) tuỳ theo khoảng cách xa gần và hoàn cảnh cụ thể mà định ngày. Thành phần chủ khách rất hẹp, chỉ gói gọn trong phạm vi gia đình.
         Trong trường hợp hai nhà xa xôi cách trở, ông già bà lão thì nên miễn cho nhau, cô dâu chú rể mà bận công tác cũng nên được miễn thứ. Nếu điều kiện cho phép thì nên duy trì, vì lễ này mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp:
- Nhắc nhủ con đạo hiếu, biết tạ ơn sinh thành, coi bố mẹ vợ cũng như bố mẹ mình.
- Thắt chặt và mở rộng mối quan hệ thông gia, họ hàng ngay từ buổi đầu, tình cảm được nhân đôi.
- Hai gia đình cùng trao đổi rút kinh nghiệm về việc tổ chức hôn lễ và bàn bạc về trách nhiệm của hai bên bố mẹ trong việc tác thành cuộc sống cho đôi trẻ trong tương lai./     


        

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét